🎋 Tiểu Kiến Trung Thang
Bài thuốc Tiểu kiến trung thang - Xuất xứ Thương hàn luận - Công dụng: Ôn trung bổ hư, hoà lý hoãn cấp, chữa Trung tiêu hư hàn, Can Tỳ
Thược dược tăng hàm lượng lên hợp với Quế chi mà điều hòa vinh vệ có thờ làm mềm (nhu) tạng can, hòa doanh huyết mà khối đau bụng, lại gia Di đường tính cam ôn cùng với Cam thảo, Sinh khương phối hợp để tăng cường tác dụng ôn dưỡng của phương, cho nên có tên gọi là "KIẾN TRUNG", là phương chủ yếu trị chứng tỳ vị hư hàn dẫn đến đau bụng.
Tiểu kiến trung thang: bài Thu*c đông y trị đau dạ dày - Mạng Y Tế - Thược dược tăng hàm lượng lên hợp với Quế chi mà điều hòa vinh vệ có thờ làm mềm (nhu) tạng can, hòa doanh huyết mà khối đau bụng. - Tiểu kiến trung thang: bài - Mạng thông tin y tế, bệnh viện, phòng khám, bài thuốc hay, thông tin y tế mới
CÔNG TY CỔ PHẦN THANG MÁY MIỀN TRUNG. Văn phòng: 775 Nguyễn Trãi - P. Phú Sơn - TP. Thanh Hóa. Nhà máy sản xuất: Khu CN Phố Nối A, Xã Trưng Trắc, Huyện Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên. VP tại Hà Nội: 18 Miếu Đầm - P. Mễ Trì - Q. Nam Từ Liêm - TP. Hà Nội. Hotline: 1900 0138 ; Email: [email protected]
Nguyên bản bài thuốc: Tác dụng: Ôn trung bổ hư, giáng nghịch giảm đau, chữa trung dương hư suy, âm hàn thịnh ở trong, bụng đầy nôn mửa, không ăn được, và tỳ vị hư hàn, giun quấy, bụng đau dữ dội. Cách dùng và lượng dùng: Thang. Cho Sơn tiêu, Can khương và Nhân sâm vào
Đại kiến trung thang (Kim quỹ yếu lược) gồm có các vị Xuyên tiêu, Can khương, Nhân sâm, Đường phèn. Sắc nước bỏ bã, gia đường phèn uống nóng. Có tác dụng ôn trung, bổ hư, giáng nghịch, chỉ thống, chủ trị các chứng trung tiêu hư hàn, bụng đau, nôn, không thích ăn, có lãi đũa, có hiệu quả tốt. BBT Website - St Tin liên quan:
Hoạt động đối thoại. Tổ chức 2 chương trình đối thoại giữa Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an, Ban Bí thư Trung ương Đoàn với cán bộ, đoàn viên thanh niên CAND; 187 chương trình đối thoại giữa cấp ủy, lãnh đạo đơn vị, địa phương; 7.350 chương trình gặp mặt, đối thoại cấp cơ sở
Trung Quốc dự kiến sẽ công bố dữ liệu kinh tế và thương mại trong tuần này. Mặc dù tăng trưởng GDP quý III có thể phục hồi so với quý trước, nhưng chính sách Zero-COVID vẫn khiến nền kinh tế số 2 thế giới có một năm tài khóa tồi tệ nhất trong gần nửa thế kỷ qua. —— Hợp đồng dầu WTI kỳ hạn tháng 11/2022: 🟢 86.72 (+1.30%) 1 ngày trước CDT Investment
Các ngân hàng Trung Quốc đã duy trì lãi suất cho vay chuẩn trong tháng thứ hai, các nhà kinh tế đã giảm kỳ vọng về việc ngân hàng trung ương sẽ nới lỏng hơn nữa khi đồng nhân dân tệ tiếp tục suy yếu. Theo một tuyên bố của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc hôm thứ Năm, lãi suất cơ bản cho vay một năm được giữ
kqV1x. “Thương hàn luận” – Tổ thànhQuế chi1,5-3 đcSinh khương2-4 látBạch thược2-3 đcĐại táo4-6 quảCam thảo1-2 đc– Cách dùng Ngày uống 1 tễ, sắc với nước, chia làm 2 lần uống lúc ấm, uống xong 1 lát sau, uống 1 bát nhỏ cháo loãng uống nước sôi còn rất nóng cũng được, làm cho ra mồ hôi nhẹ.– Công dụng Giải cơ phát biểu, điều hòa doanh vệ.– Chủ trị Ngoại cảm phong tà, đầu đau phát sốt, ra mồ hôi, sợ gió, mũi chảy nước trong, nôn khan, miệng khô khát rêu lưỡi trắng mỏng mà ẩm trơn, mạch phù hoãn hoặc phù nhược, và do doanh vệ bất hòa mà gây ra lúc nóng lúc rét, ra mồ hôi, sợ gió.– Giải nghĩa của phương Quế chi giải cơ phát biểu, ôn thông kinh mạch, Bạch thược toan khổ vi hàn, đã có tác dụng liễm âm hòa doanh, hai thứ cùng dùng để hòa lý, một tán, một thu, điều hòa doanh vệ có thể làm biểu tà được giải, lý khí được hòa, là chủ dược trong phương. Sinh khương tân ôn phát tán, giúp Quế chi giải biểu, kiêm có thể khai vị. Đại táo cam hoãn, có thể giúp Bạch thược hòa lý. Cam thảo cam hoãn hòa trung, có thể điều hòa các vị chi thang tuy là phương tễ giải biểu nhưng phối dùng với Bạch thược là thuốc hòa âm, so với phương chuyên phát hãn thì khác nhau. Cho nên phương này ngoài việc có thể dùng ở ngoại cảm phong tà biểu chứng, đối với người sau khi bị bệnh nặng, sau khi đẻ, do doanh vệ bất hòa, lúc nóng lúc rét, tinh thần không phấn chấn, ăn uống giảm sút, mạch hoãn có mồ hôi, đều có thể ứng dụng. Nếu biểu chứng không có mồ hôi hoặc nhiệt thịnh miệng khát, mạch sác thì không nên dùng. Nhiệt thịnh mà dùng nhầm Quế chi thang có khi gặp dẫn tới chảy máu mũi, “Thương hàn luận” dùng phương này thường lấy mạch phù hoãn hoặc phù nhược làm dấu hiệu chỉ chứng. Các y gia đời sau cũng đã thường lấy “mạch hoãn tự có mồ hôi” làm yếu diểm để tuyển dùng phương này. Nếu trên lâm sàng lại hợp chẩn thấy chứng “rêu lưỡi trắng trơn” thì ứng dụng phương này sẽ càng thêm chính xác.– Cách gia giảm thường dùng Phương này gia Phụ tử gọi là Quế chi gia phụ tử thang trị phát hãn quá mức, mồ hôi ra không dứt, sợ gió, khó đi đái, tứ chi gập duỗi không dễ dàng. Bỏ Bạch thược thêm Phụ tử, tên gọi là Quế chi phụ tử thang trị phong thấp tự ra mồ hôi, thân thể nặng nề đau đớn, mạch phù mà vô này gia Cát căn, tên gọi là Quế chi gia cát căn thang trị ngoại cảm phong tà, kinh mạch trở trệ, làm cho kinh mạch không thể rải khắp, mất sự nuôi mềm mại, gây ra cổ gay kéo cứng. Nếu không có mồ hôi, có thể gia Ma hoàng, tức Cát căn thang. Quế chi gia cát căn thang và Cát căn thang lại có thể trị hợp ở bệnh của Thái dương và Dương minh, ỉa chảy mà có biểu chứng. Phương này gia Hoàng cầm, tên là Đương đảm thang hiện nay dùng ở ngoại cảm phát sốt, hiệu quả rất này gia nặng lượng dùng Bạch thược lại gia đường Mạch nha, tức Tiểu kiến trung thang, nguyên trị lý hư đau bụng. Lại có thể gia vào hoàng kỳ, Đảng sâm, Đương quy đều là biến hóa phát triển của Tiểu kiến trung thang, hiện tại dùng rộng rãi ở bệnh loét ruột, biểu hiện chứng tỳ vị hư hàn. Lượt xem xếp hạng 5 sao xếp hạng 5 sao xếp hạng 5 sao – xếp hạng 5 sao ý Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người ! Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !Phòng khám Cột sống 589 Hoàng Hoa Thám, Ba Đình, Hà Nội Phụ trách chuyên môn BS Mai Trung Dũng Bác sĩ chuyên khoa cấp II Đại học y Hà hội - 2015 Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt NamCó thể bạn quan tâm
TIỂU KIỂN TRUNG THANG SHO KEN CHU TO Thành phần và phân lượng Quế chi 3-4g, Sinh khương 3-4g, Đại táo 3-4g, Thược dược 6g, Cam thảo 2-3g, Mạch nha 20g. Cách dùng và lượng dùng Thang. Bỏ tất cả các vị trừ Mạch nha vào sắc, sau đó bỏ bã rồi cho Mạch nha vào sắc tiếp trong vòng 5 phút. Công dụng Dùng để trị các chứng thể chất hư nhược ở trẻ em, mệt mỏi rã rời, chứng thần kinh dễ bị kích thích, viêm ruột mạn tính, trẻ con đái dầm, khóc đêm ở những người thể chất hư nhược, dễ mệt mỏi, huyết sắc kém kèm theo một trong các triệu chứng đau họng, tim đập mạnh, chân tay lúc nóng lúc lạnh, đái rắt hoặc đái nhiều. Giải thích Theo sách Thương hàn luận và sách Kim quỹ yếu lược Có thể nói đây là một bài thuốc bổ cho những người có thể chất hư nhược, nhất là dùng để cải thiện thể chất hư nhược cho trẻ con. Bài thuốc này là bài Quế chi gia thược dược thang có thêm Mạch nha, với tác dụng bổ dưỡng và làm dịu những cơn đau kịch phát của Mạch nha, cho nên bài thuốc này được ứng dụng rộng rãi hơn là việc dùng để trị chứng kiết lị và đau bụng của bài Quế chi gia Thược dược thang. Lưu ý Bài thuốc này không được dùng cho những người bị nôn mửa và những người bị viêm cấp tính. Theo các tài liệu tham khảo như Kim quỹ yếu lược, Chẩn trị y điển, Bệnh thương hàn, mạch dương sáp, mạch lâm huyền se ợcó chứng bụng thường đau thắt, trước hết hãy dùng Tiểu kiến trung thang, nếu không khỏi thì dùng Tiểu sài hồ thang làm chủ. Bệnh thương hàn qua hai ba ngày sau, người rất phiền muộn vì tim đập mạnh mà phiền, dùng Tiểu kiến trung thang làm chủ. Thuốc dùng cho những người hư lao, biểu cấp, tim đập mạnh, bụng đau, mộng tinh, chân tay đau, bàn chân bàn tay nóng khó chịu, họng hô, miệng khát. Nam giới da vàng vọt, tiểu tiện bất lợi thì thường dùng Tiểu kiến trung thang. Phụ nữ đau bụng cũng nên dùng Tiểu kiến trung thang. Thuốc dùng cho những người thường ngày cơ thể hư nhược, dễ mệt mỏi, hoặc những người bình thường khỏe mạnh, nhưng hoạt động quá sức, người quá mệt mỏi. Những chứng bệnh chủ yếu mà bài thuốc này trị là người mệt mỏi rã rời, bụng đau. Bài thuốc cũng được dùng khi nhịp tim tǎng vọt, đổ mồ hôi trộm, đổ máu cam, mộng tinh, bàn chân bàn tay nóng khó chịu, tứ chi có cảm giác mệt mỏi đau nhức, miệng khô, tiểu tiện bất lợi. Phạm vi ứng dụng của bài thuốc khá rộng rãi, phần nhiều là được dùng cho trẻ còn bú, cải thiện thể chất của những đứa trẻ gầy yếu, trị chứng đái đêm, khóc đêm, viêm dạ dày, cảm mạo ở trẻ em, lên sởi, viêm phổi và đau bụng kịch phát. Thuốc cũng có hiệu nghiệm đối với bệnh viêm phúc mạc mạn tính dạng nhẹ, lao phổi dạng nhẹ, viêm xương, viêm khớp, chứng thần kinh, thoát vị ở trẻ sơ sinh, xuyễn, chàm tím, viêm kết mạc, xuất huyết đáy mắt. Tiểu Kiến Trung Thang Tiểu kiến trung thang Quế chi 6-8 Bạch thược 12-16 Trích thảo 3-6 Sinh khương 8-12 Táo 4q Đường phèn 20-40 Bài thuốc có tính ngọt ấm dùng trị các chứng hư lao âm dương đều hư, dương hư nặng hơn. nếu chứng khí hư nặng ra mồ hôi, khó thở, mệt mỏi gia hoàng kỳ thành bài hoàng kỳ kiến trung Phụ nữ sau đẻ hư nhược, bụng đau, khí kém hoặc bụng dưới đau không muốn ăn gia thêm đương qui gọi là đương qui kiến trung thang Trường hợp sốt do rối loạn cơ năng âm dương mất điều hoà do hư nhiệt trong bệnh đa bạch cầu khí huyết đều hư sốt kéo dài bài thuốc này có tác dụng cam ôn trừ nhiệt Cách dùng và lượng dùng Thang. Bỏ tất cả các vị trừ Mạch nha vào sắc, sau đó bỏ bó rồi cho Mạch nha vào sắc tiếp trong vũng 5 phỳt. Công dụng Dùng để trị các chứng thể chất hư nhược ở trẻ em, mệt mỏi ró rời, chứng thần kinh dễ bị kớch thớch, viờm ruột mạn tớnh, trẻ con đái dầm, khóc đêm ở những người thể chất hư nhược, dễ mệt mỏi, huyết sắc kém kèm theo một trong các triệu chứng đau họng, tim đập mạnh, chân tay lúc nóng lúc lạnh, đái rắt hoặc đái nhiều. Giải thích Theo sỏch Thương hàn luận và sỏch Kim quỹ yếu lược Có thể nói đây là một bài thuốc bổ cho những người có thể chất hư nhược, nhất là dùng để cải thiện thể chất hư nhược cho trẻ con. Bài thuốc này là bài Quế chi gia thược dược thang có thêm Mạch nha, với tác dụng bổ dưỡng và làm dịu những cơn đau kịch phát của Mạch nha, cho nên bài thuốc này được ứng dụng rộng rói hơn là việc dùng để trị chứng kiết lị và đau bụng của bài Quế chi gia Thược dược thang. Lưu ý Bài thuốc này không được dùng cho những người bị nôn mửa và những người bị viêm cấp tính. Theo các tài liệu tham khảo như Kim quỹ yếu lược, Chẩn trị y điển, Bệnh thương hàn, mạch dương sáp, mạch lâm huyền se ợcó chứng bụng thường đau thắt, trước hết hãy dùng Tiểu kiến trung thang, nếu không khỏi thì dùng Tiểu sài hồ thang làm chủ. Bệnh thương hàn qua hai ba ngày sau, người rất phiền muộn vỡ tim đập mạnh mà phiền, dùng Tiểu kiến trung thang làm chủ. Thuốc dùng cho những người hư lao, biểu cấp, tim đập mạnh, bụng đau, mộng tinh, chân tay đau, bàn chân bàn tay nóng khó chịu, họng hô, miệng khát. Nam giới da vàng vọt, tiểu tiện bất lợi thỡ thường dùng Tiểu kiến trung thang. Thuốc dùng cho những người thường ngày cơ thể hư nhược, dễ mệt mỏi, hoặc những người bỡnh thường khỏe mạnh, nhưng hoạt động quá sức, người quá mệt mỏi. Những chứng bệnh chủ yếu mà bài thuốc này trị là người mệt mỏi ró rời, bụng đau. Bài thuốc cũng được dùng khi nhịp tim tăng vọt, đổ mồ hôi trộm, đổ máu cam, mộng tinh, bàn chân bàn tay nóng khó chịu, tứ chi có cảm giác mệt mỏi đau nhức, miệng khô, tiểu tiện bất lợi. Phạm vi ứng dụng của bài thuốc khá rộng rói, phần nhiều là được dùng cho trẻ cũn bỳ, cải thiện thể chất của những đứa trẻ gầy yếu, trị chứng đái đêm, khóc đêm, viêm dạ dày, cảm mạo ở trẻ em, lên sởi, viêm phổi và đau bụng kịch phát. Thuốc cũng có hiệu nghiệm đối với bệnh viêm phúc mạc mạn tính dạng nhẹ, lao phổi dạng nhẹ, viêm xương, viêm khớp, chứng thần kinh, thoát vị ở trẻ sơ sinh, xuyễn, chàm tím, viêm kết mạc, xuất huyết đáy mắt.
Thành phần Di đường 30g Thược dược 18g Chích cam thảo 6g Sinh khương 10g Đại táo 4 quả Quế chi 6g Cách dùng Trước tiên lấy 5 vị đầu sắc nước 2 lần, bỏ bã lấy nước, cho Di đường vào, chia hai lần, uống ấm. Công dụng Ôn trung bổ hư, hoà lý hoãn cấp. Chủ trị Hư lao lý cấp, nhiều lúc đau trong bụng, chườm ấm thì đỡ đau, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch tế hoãn; hoặc tim hồi hộp, hư phiền không yên, sắc mặt xấu, hoặc tứ chi đau đớn, chân tay nóng bứt rứt, họng khô miệng táo. Phân tích phương thuốc Bài này tức là Quế chi thang bội Bạch thược và gia Di đường mà thành. Trong bài, Di đường cam ôn, chất nhuận dùng làm quân, có tác dụng ích tỳ khí mà nuôi tỳ âm, ôn bổ trung tiêu, lại có thể hoãn cái cấp của can, nhuận cái táo của phế. Quế chi ôn dương khí, Bạch thược ích âm huyết đều là thần. Chích cam thảo ngọt, ấm, ích khí giúp Di đường và Quế chi ích khí ôn trung, hợp với Bạch thược chua ngọt hoá âm mà ích can tư tỳ, làm tá. Sinh khương ôn vị, Đại táo bổ tỳ, hợp lại dâng cao cái khí sinh phát ở trung tiêu mà hành chuyển tân dịch, hoà dinh vệ đều là tá. Sáu vị phối hợp cay ngọt hoá dương và chua ngọt hoá âm cùng phát huy công năng ôn trung bổ hư, hoà lý hoãn cấp. Gia giảm Nếu khí hư tự hãn, người nóng thì gia Hoàng kỳ 9g là Hoàng kỳ kiến trung thang công dụng ôn trung bổ khí, hoá lý hoãn cấp. Nếu sau đẻ, người suy yếu, mạch rỗng hư, họng đau lâm rõm, thiếu khí hoặc bụng sườn đau cấp lan sau lưng, không ăn được gia thêm Đương quy 12g là bài Đương quy kiến trung thang. Nếu mất máu nhiều thêm Địa hoàng, A giao. Ứng dụng lâm sàng Ngày nay thường dùng để điều trị loét đường tiêu hoá, viêm dạ dày mạn tính, viêm gan mạn tính, thần kinh suy nhược, thiếu máu không tái tạo, thiếu máu do thiếu sắt, vàng da tan huyết.
tiểu kiến trung thang